Trung Quốc đã sẵn sàng đối đầu với Mỹ trên Biển Đông?

doc bao truc tuyen

banner ngang

Trung Quốc đã sẵn sàng đối đầu với Mỹ trên Biển Đông?

"Gót chân Asin” của cụm tàu sân bay chiến đấu Mỹ


Cụm tàu sân bay Mỹ trên Biển Đông.

Bản thân tàu sân bay có thể tích lớn, lại thêm các tàu chiến bảo vệ và đảm bảo, triển khai binh lực trên khu vực biển và trên không rộng từ hàng chục đến hàng trăm hải lý nên không thể che dấu. Ngoài ra, các trường vật lý như hồng ngoại, điện từ, âm thanh hình thành xung quanh tàu sân bay cũng rất mạnh, và đây chính là cơ hội để các thiết bị trinh sát và báo động từ xa nhận biết, theo dõi khiến tính chất bí mật, bất ngờ không còn giá trị.

Bên cạnh đó, việc sử dụng cụm tàu sân bay tấn công cũng phải lựa chọn thời điểm và không gian khi năng lực tác chiến phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và thời gian. Một khi sức gió đạt đến cấp 8, sóng biển đạt cấp 6-7, máy bay trên hạm khó có thể cất cánh, tỷ lệ đánh trúng của tên lửa cũng rất thấp. Năng lực bay đêm của phi công máy bay trên hạm chỉ bằng một nửa so với ban ngày, năng lực cất hạ cánh trên tàu sân bay rõ ràng bị hạ thấp.

Năng lực chống ngầm và chống tên lửa tập kích cao độ của cụm tàu sân bay cũng không phải là thế mạnh, đặc biệt khi tác chiến đơn lẻ theo hướng tấn công nhất định. Chỉ cần một tàu ngầm đối phương vượt qua được hàng rào bảo vệ thì hoàn toàn có thể tổ chức tấn công gây tổn thất nặng nề cho tàu sân bay trong đội hình chiến đấu. Bên cạnh đó, nếu sử dụng số lượng lớn các tên lửa đối hạm tập trung thì rõ ràng, tàu sân bay sẽ khó có thể sống sót trong chiến tranh quy ước, không sử dụng vũ khí hạt nhân.

Nhiên liệu, đạn dược và nhu yếu phẩm tiêu hao của cụm tàu sân bay chiến đấu là rất lớn, vì thế cần phải thường xuyên tiếp tế. Tàu sân bay động cơ hạt nhân trong điều kiện không có tiếp tế bổ sung chỉ có thể duy trì hành động tác chiến liên tục trong 12 ngày, còn tàu sân bay động cơ thông thường chỉ duy trì hành động tác chiến liên tục trong 7 ngày. Hơn nữa, năng lực phòng ngự khi tiếp tế trên biển của tàu sân bay rõ ràng bị giảm sút.

Phương thức tác chiến cũ kỹ

Lợi thế biển xa của Mỹ dựa vào khả năng cảnh báo sớm.

Có thể nói rằng, hiện cụm tàu sân bay tấn công của Mỹ nhấn mạnh vào việc nhất thể hóa thông tin, hay nói cách khác là đảm bảo tối đa hóa thông tin và cảnh giới trong không gian chiến trường. Theo đó, hệ thống CISR tiên tiến đã đưa tàu sân bay vào hệ thống tác chiến lấy mạng làm trung tâm, khiến nó trở thành đầu não quan trọng trong thu nhận, xử lý, truyền phát, sử dụng thông tin, khiến cụm chiến đấu tàu sân bay tổ hợp thành một thể hữu cơ.

Với các hệ thống do thám, thiết bị chỉ huy, vũ khí trang bị của Mỹ và các nước đồng minh trong phạm vi toàn cầu, thông qua do thám, định vị, khoá chặn mục tiêu, tiến hành phân tích, quyết định áp dụng phương pháp tấn công hiệu quả nhất, từ đó hải quân Mỹ có thể phát huy tối đa hiệu năng tác chiến của hệ thống cụm tàu sân bay chiến đấu.

Các cụm tàu sân bay chiến đấu của Mỹ hiện nay tập trung vào thông tin 3 chiều cụ thể là các máy bay cảnh báo sớm trên không ví dự như máy bay hạm E-2 Hawkeyes, máy bay cất cánh từ mặt đất E-3 Sentries, các loại radar trên không khác như máy bay trinh sát P-8 Poseidon, các hệ thống radar mặt nước và thứ ba là các thiết bị phát hiện tàu ngầm dưới mặt biển. Tuy nhiên, cách thức hoạt động của cụm tàu sân bay này lại không có gì mới mẻ khi đã tồn tại hàng chục thập kỷ qua. Trong khi đó, chiến lược của Trung Quốc vẫn là chiến tranh phi đối xứng theo binh pháp Tôn Tử, thường bị Mỹ và đồng minh đánh giá thấp.

Không có lợi thế khi tiến vào vùng biển gần

Đối phó với tàu sân bay Mỹ trên khu vực biển gần, Trung Quốc có thể sử dụng tập trung hỏa lực tên lửa đối hạm. Hiện hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công đối hải khá mạnh với lực lượng hơn 100 máy bay cường kích JH-7, 70 máy bay đa nhiệm Su-30MKK và 24 Su-30MK2. Chưa tính đến các máy bay ném bom cũ như H-6 thì hầu như tất cả các máy bay này đều có khả năng mang theo tên lửa đối hạm YJ-82. 
 

Tên lửa đạn đạo DF-21 đã có biến thể 21D diệt tàu sân bay.

Bên cạnh đó, hầu hết tất cả tàu chiến mặt nước của Trung Quốc đều có thể mang từ 8-16 tên lửa đối hạm YJ-82/83. YJ-83 và tên lửa Moskit trên bốn khu trục hạm lớp Sovremenny đều là tên lửa tốc độ siêu âm, thu hẹp thời gian đối phó của đối phương. Trong khi đó, các tàu ngầm của Trung Quốc có thể được trang bị các tổ hợp tên lửa đối hạm Klub và hơn 80 tàu hộ vệ tên lửa tàng hình Type 022 có thể đánh các đòn bất ngờ.

Trong thời gian qua, việc úp mở về tên lửa đạn đạo đối hạm DF-21D tầm xa tốc độ cao của Trung Quốc cũng là một nguy cơ đối với hạm tàu sân bay Mỹ. Tên lửa này nếu mang đầu đạn thông thường và với tốc độ siêu vượt âm thì hoàn toàn có thể vượt qua các hệ thống tên lửa đối không thông thường hiện nay. Các tên lửa phòng thủ đạn đạo SM-3 của Mỹ được cải tiến đủ để đánh chặn tên lửa loại này chưa vẫn là câu hỏi để ngỏ.

Mặc dù có sự chi viện của các máy bay cất cánh từ mặt đất, nhưng liên đội không quân với các máy bay F/A-18 Super Hornets có thể phải chịu sức ép cực lớn trong việc thực hiện tác chiến phòng thủ trước các đợt không kích dày đặc của đối phương, đặc biệt trong trường hợp phải đảm nhiệm thêm nhiệm vụ tấn công đáp trả. Một áp lực quá lớn có thể sẽ vượt quá khả năng của liên đội không quân hạm và dẫn tới nguy cơ tàu sân bay sẽ bị đánh chìm.

Nếu Mỹ phải triển khai cụm tàu sân bay trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất, thì sẽ phải khắc phục khá nhiều điểm yếu chí mạng trên để có thể tồn tại. Trong đó, với khả năng của máy bay đa nhiệm Growler, phiên bản bổ sung tác chiến điện tử của Super Hornet có thể lựa chọn đánh điểm đối phương trong khi bỏ qua các hệ thống bạn, một cuộc chiến phổ điện từ sẽ diễn ra.

Tuy nhiên, nếu quân đội Trung Quốc ngày càng được hiện đại hóa thì hậu quả thiệt hại từ cuộc chiến này sẽ ngày càng cân bằng hơn. Như vậy, có thể thấy rằng, trong viễn cảnh chiến tranh quy ước với Trung Quốc, Mỹ sẽ phải cân nhắc việc đưa cụm tàu sân bay chiến đấu tới Biển Đông hay biển Hoa Đông tham chiến trực tiếp

Theo : skcd.com.vn
banner vuong

Bạn đã xem chưa