Quản lý An toàn thực phẩm còn quá nhiều bất cập

doc bao truc tuyen

Quản lý An toàn thực phẩm còn quá nhiều bất cập

Văn bản pháp luật chồng chéo, kiến thức của chính người làm công tác ATTP còn chưa vững, lực lượng cồng kềnh, không hiệu quả...

1. Đánh giá chung

Luật an toàn thực phẩm ra đời năm 2010, có hiệu lực từ 01/7/2011 chính thức đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam với thế giới trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, được thể hiện qua các nội dung sau:

1.1. Áp dụng HACCP trong kiểm soát an toàn thực phẩm
Thành công nổi bật của Luật An toàn thực phẩm là đã ghi nhận trong Luật về việc chuyển hướng hoạt động kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm từ việc lấy mẫu lô hàng cuối cùng để kiểm tra (phương pháp cổ điển), hoặc kiểm soát an toàn thực phẩm theo ISO 9000 (phương pháp đã được thế giới ghi nhận là không thể áp dụng cho đối tượng thực phẩm - sản phẩm mau ươn, chóng thối); Để áp dụng phương pháp nhận diện mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và kiểm soát mối nguy gọi tắt là HACCP. Đây là phương pháp đã được cả thế giới ghi nhận từ thập niên 80, thế kỷ 20, nhưng từng nước ghi nhận trong Luật kiểm soát an toàn thực phẩm thì phải một thời gian sau đó (ví dụ: EU từ 1991, Hoa Kỳ 1997, Nhật Bản 2005…)

Quản lý an toàn thực phẩm phải được quản lý theo chuỗi.


Kiểm soát theo phương pháp nhận diện mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và kiểm soát mối nguy theo phương pháp phòng ngừa, nếu không phòng ngừa được thì ngăn chặn, và nếu không ngăn chặn được thì khống chế mối nguy ở dưới mức giới hạn tối đa cho phép. Chính nguyên lý này đã dẫn tới nhu cầu thực tế khách quan là phải kiểm soát an toàn thực phẩm theo toàn bộ chuỗi sản xuất (như người ta vẫn nói, từ trang trại (động vật trên cạn và dưới nước) tới bàn ăn; hoặc từ cái cày (thực vật trên cạn) tới cái nĩa.

1.2. Hình thành hệ thống kiểm soát từ Trung ương đến địa phương
Căn cứ vào Luật An toàn thực phẩm, các Bộ được giao nhiệm vụ chính là Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Y Tế, Bộ Công Thương, đã hình thành hệ thống tổ chức quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương tới Tỉnh, Huyện và Xã, Phường. Hệ thống tổ chức này giúp cho việc thực thi quản lý nhà nước theo chuỗi, và giúp kiểm soát an toàn thực phẩm tại nơi phát sinh ra mối nguy.

1.3. Góp phần thúc đẩy ra đời phương pháp quản lý chất lượng trong sản xuất nguyên liệu
Công đoạn đầu của chuỗi sản xuất thực phẩm (động vật trên cạn, thực vật trên cạn, thủy sản) là nhận diện mối nguy và kiểm soát có hệ thống4 loại mối nguy là: an toàn thực phẩm, an toàn bệnh dịch động thực vật, an toàn môi trường do hoạt động nuôi trồng gây ra và an sinh xã hội mà chúng ta vẫn gọi là VietGAP. Việc thực thi VietGAP đúng nghĩa sẽ là nền tảng của sản xuất bền vững, là tiền đề quan trọng nhất để người dân được sử dụng thực phẩm an toàn, là điều kiện tiên quyết để các quốc gia nhập khẩu trên thế giới chấp nhận hàng nông sản, thực phẩm của Việt Nam.

1.4. Kiểm soát thực phẩm nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam chặt chẽ và minh bạch hơn
Trước năm 2010, hàng thực phẩm của nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam (trừ thủy sản) hầu như không có kiểm soát, hoặc có kiểm soát nhưng chỉ dựa trên việc lấy mẫu lô hàng cuối cùng.

Nhưng từ 2010 đến nay, ngày càng nhiều văn bản thỏa thuận song phương, quy định việc kiểm soát hàng hóa thực phẩm xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các quốc gia khác có nội dung và mức độ kiểm soát tương đương (bao gồm việc Việt Nam cử đoàn chuyên gia sang kiểm tra đièu kiện sản xuất an toàn thực phẩm tại nước xuất khẩu).

1.5. Công tác truyền thông về hàng hóa không đảm bảo an toàn thực phẩm, hàng giả, hàng kém chất lượng đã thường xuyên, kịp thời và hiệu quả hơn.
Những thông tin về điều kiện của cơ sở sản xuất thực phẩm không đảm bảo an toàn , những sản phẩm thực phẩm không an toàn hoặc những hành động gian dối, kiếm lợi bất chính mà hệ lụy là thực phẩm không an toàn được đưa tin hàng ngày với mức độ ngày càng gia tăng. Khách quan nhận xét thì bên cạnh việc tỷ lệ lô hàng và sản phẩm không an toàn ngày càng tăng, còn do vì năng lực hoạt động của giới truyền thông về an toàn thực phẩm được nâng cao; và người tiêu dùng đã quan tâm hơn đến chất lượng thực phẩm. Nhu cầu chuyển đổi từ nhận thức có cái để ăn, ăn no, sang ăn nhưng phải bổ dưỡng và an toàn cho sức khoẻ ngày cảng tăng.

2. Những bất cập, nguyên nhân và giải pháp

2.1. Đánh giá chung

Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, các báo cáo về tỷ lệ không nhiễm chất cấm theo các nhóm hàng về Thủy sản, Động vật trên cạn, Thực vật trên cạn lần lượt là 1%, 10% (6-26%) và 30%. Đây chủ yếu là các mối nguy hóa học (Hóa chất, kháng sinh), các mối nguy vật lý, sinh học chưa nêu trong báo cáo.
Báo đất việt
banner vuong

Bạn đã xem chưa